Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại viện nghiên cứu, trường đại học ở Việt Nam.

Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại viện nghiên cứu, trường đại học ở Việt Nam.

  1. Thực trạng hoạt động thương mại hóa kế quả nghiên cứu tại trường đại học, trường đại học

Hiện nay, công nghệ được coi là công cụ nhằm tăng sức cạnh tranh và chất lượng mọi loại sản phẩm. Trong đó, các trường đại học chính là nơi chủ yếu  tạo ra công nghệ và tài sản trí tuệ. Còn việc nghiên cứu khoa học là nguồn chính để tạo ra các sáng chế có thể thương mại hóa. Tuy nhiên, vấn đề liên kết, hợp tác và chuyển giao công nghệ vẫn còn nhiều hạn chế.

Nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên một phần là do các nghiên cứu có tiềm năng khai thác ứng dụng còn ít; nhiều kết quả nghiên cứu có tiềm năng ứng dụng nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu thương mại hóa; nhà khoa học chưa chủ động và tích cực trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu; năng lực để doanh nghiệp đổi mới công nghệ còn thấp; môi trường kết nối giữa doanh nghiệp và nhà sáng chế đã có tác dụng bước đầu nhưng hiệu quả chưa cao; khó khăn trong đàm phán thương mại…Hoạt động chuyển giao công nghệ trong trường đại học hiện nay đã được tăng cường hơn trước, song thương mại hóa công nghệ vẫn còn yếu, chưa đồng bộ và tồn tại nhiều hạn chế. Một số trường đại học chưa quản lý, thống kê được số lượng các hoạt động thương mại hóa công nghệ, các tác giả tự chuyển giao kết quả nghiên cứu mà không xin phép. Nhiều sáng chế công nghệ chưa hoàn thiện, đòi hỏi một quá trình đầu tư lâu dài mới có thể ứng dụng, khai thác thương mại được. Một số tác giả sáng chế quá thận trọng trong việc hợp tác và vẫn chưa sẵn sàng chuyển giao công nghệ. Họ muốn nhanh chóng thu lợi ích từ việc chuyển giao sáng chế công nghệ, không muốn hợp tác chung tay phát triển công nghệ với nhà đầu tư.

Tuy nhiên, có thể thấy tình hình thương mại hóa công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam đang có rất nhiều chuyển biến và thay đổi tích cực. Nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của khoa học và công nghệ (KH&CN), đổi mới KH&CN ngày càng tăng lên nhằm tạo thêm sức cạnh tranh. Trong các trường đại học, viện nghiên cứu, hướng nghiên cứu khoa học đã ngày càng gắn với thực tiễn nhiều hơn. Chính sách khuyến khích của Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để liên kết trường đại học và các doanh nghiệp, phát triển thị trường KH&CN, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nhiều Luật, Nghị định liên quan đến vấn đề này như: Luật KH&CN, Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Sở hữu trí tuệ… cũng đã tạo ra các hành lang pháp lý phù hợp để thúc đẩy mối liên kết này.

Bên cạnh những thuận lợi, việc thương mại hóa công nghệ trong các trường đại học ở Việt Nam vẫn còn gặp phải nhiều khó khăn cần khắc phục. Từ phía trường đại học, nhu cầu và khả năng liên kết với doanh nghiệp của các trường đại học chưa cao do thiếu động lực và thiếu cơ chế gắn kết, sản phẩm KH&CN còn ít và kém chất lượng, năng lực và trang thiết bị còn hạn chế, thời gian nghiên cứu dài trong khi nhu cầu doanh nghiệp cần sớm có công nghệ, thiếu cơ quan chuyên trách hiểu biết và gắn kết với doanh nghiệp…

Còn từ phía doanh nghiệp, phần lớn là doanh nghiệp Việt Nam (trên 90% có vốn dưới 10 tỷ đồng) với quy mô nhỏ, quy trình sản xuất đơn giản, tài chính hạn chế, khó có điều kiện liên kết. Các doanh nghiệp vẫn chưa quan tâm đúng mức đến cơ chế đầu tư tài chính cho việc nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ, thẩm định giá công nghệ… Ngoài ra, còn có một vấn đề “nhạy cảm” là vấn đề bảo mật kinh doanh, nhiều doanh nghiệp vẫn chưa thật sự tin tưởng vào các trường đại học… Về phía Nhà nước, còn nhiều chính sách ưu tiên cho trường công lập nên trường đại học và các doanh nghiệp vẫn chưa tích cực liên kết với nhau. Thông tin từ các chính sách khuyến khích chưa được phổ biến đầy đủ, kịp thời; thiếu cơ quan chuyên môn xúc tiến liên kết đại học – doanh nghiệp. Bên cạnh đó, nhận thức và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) còn yếu kém nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến thương mại học công nghệ đại học – doanh nghiệp và hoạt động sáng tạo tại các trường đại học.

Có thể coi một trong số những yếu tố giữ vai trò quan trọng giúp thương mại hóa công nghệ thành công tại Việt Nam chính là quyền SHTT. Việc sử dụng, bảo hộ, thương mại hóa tài sản trí tuệ và tuyên truyền kiến thức về sở hữu trí tuệ không chỉ là mối quan tâm của Nhà nước, trường đại học mà còn của rất nhiều doanh nghiệp. Nhận thức và kiến thức về SHTT đang tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, tình hình bảo hộ quyền SHTT hiện nay ở nước ta chưa thực sự mạnh, số lượng đơn đăng ký sáng chế công nghệ còn ít, trong đó, chủ yếu là ngân hàng và kinh doanh công nghệ. Tình trạng xâm phạm quyền SHTT đang là vấn đề nhức nhối với nhiều diễn biến phức tạp. Tại các trường đại học, SHTT đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Vi phạm quyền SHTT đã gây tâm lý chán nản, mất động lực cho người nghiên cứu khoa học và những người làm công tác chuyển giao công nghệ.

Hiện thực hóa các giải pháp thương mại hóa công nghệ

Có 2 nhóm giải pháp cần được thực hiện nhằm thúc đẩy thương mại hóa công nghệ trong trường đại học, gồm: Cơ chế và chính sách mang tầm quốc gia; Giải pháp cụ thể đối với trường ĐH kỹ thuật. Chúng ta cần nhanh chóng hỗ trợ thành lập các cơ quan trung gian thực hiện dịch vụ chuyển giao công nghệ, tổ chức thêm Tech-marts và tăng cường marketing công nghệ, đầu tư thêm trang thiết bị cho các trường ĐH kỹ thuật nhằm tăng cường nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, cấp vốn thêm cho những người hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo.

Ngoài ra, cũng cần tiếp tục thúc đẩy thành lập doanh nghiệp KH&CN và vườn ươm công nghệ, phát triển chương trình hỗ trợ thương mại hóa công nghệ và chính sách ưu đãi về thuế hỗ trợ chuyển giao công nghệ đại học – doanh nghiệp, tổ chức gặp mặt thường xuyên giữa Nhà nước – Đại học – Doanh nghiệp. Về các giải pháp cụ thể đối với các trường ĐH kỹ thuật, cần có những quy định cụ thể về quản lý SHTT và chuyển giao công nghệ như: Xác định chủ sở hữu của các công nghệ, sản phẩm và tài sản trí tuệ; Vai trò của bộ phận quản lý SHTT trong việc thực thi đăng ký độc quyền công nghệ cho các đơn vị và các nhà khoa học trong trường đại học; Đề xuất mức phân chia lợi nhuận nhằm động viên các tác giả đăng ký bảo hộ quyền SHTT, thương mại hóa công nghệ… Các quy định này cần được cụ thể hóa rõ ràng các bước đăng ký xác lập quyền và hỗ trợ tài chính, giúp thúc đẩy mối quan hệ mấu chốt giữa trường đại học và doanh nghiệp.

Các trường đại học, viện nghiên cứu là nơi tập trung các hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ và lưu giữ hầu hết các kết quả nghiên cứu, sáng chế. Mặc dù không ít viện, trường đã đạt được nhiều thành công trong việc chuyển giao công nghệ, thương mại hóa các sáng chế nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, con số này chưa tương xứng với tiềm năng.

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội được xem là trường đi đầu trong việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu, sáng chế. Trường đã ký kết nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ với nhiều tập đoàn, công ty lớn trong nước cũng như thế giới như Tập đoàn SUN MicroSystems, Công ty cổ phần bóng đèn phích nước Rạng Đông. Trong giai đoạn 2006 – 2010, doanh số trong chuyển giao công nghệ và sản xuất kinh doanh của trường đạt gần 450 tỷ đồng[1].

Với nhiều sáng chế, công nghệ mới được các đơn vị sử dụng đáng giá cao như thiết bị xay xát lúa gạo; thiết bị xử lý rác thải; hệ thống lọc nước biển cho hải đảo; thiết bị tự động hóa khai thác dầu khí;…. Trường Đại học Bách khoa TPHCM cũng là một trong số ít các trường thành công trong việc thương mại hóa tài sản trí tuệ. Giá trị các hợp đồng chuyển giao công nghệ mà trường đã ký năm 2007 là khoảng 60 tỷ đồng, năm 2008 gần 70 tỷ đồng, năm 2009 là hơn 63 tỷ đồng, năm 2010 là 67 tỷ đồng. Riêng năm 2012, trường có 113 đề tài khoa học các cấp được duyệt với tổng kinh phí hơn 10 tỷ đồng, thực hiện nhiều hợp đồng chuyển giao công nghệ với tổng doanh thu trên 90 tỷ đồng[2].

Bên cạnh các trường đại học, nhiều viện nghiên cứu ngành kỹ thuật cũng đã thành công trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Theo ước tính của Viện Máy và Dụng cụ công nghiệp, các sản phẩm cơ khí mới của Viện đã tiết kiệm được mỗi năm hơn 10 triệu USD do thay thế hàng nhập khẩu. Từ năm 2005, một số sản phẩm công nghệ cao còn được xuất khẩu ra nước ngoài

Viện Nghiên cứu và Ứng dụng Công nghệ Nha trang đạt được nhiều thành tựu trong chuyển giao công nghệ. Với đề tài “Nghiên cứu công nghệ và thiết bị sản xuất fucoidan từ một số loài rong nâu Việt Nam” đã cho ra đời sản phẩm fucoidan, phục vụ công tác chữa bệnh hiệu quả với chi phí rẻ tại Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu còn tạo điều kiện cho nhiều địa phương trong đó có tỉnh Khánh Hòa phát triển mạnh lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy hải sản.

Mặt khác các kết quả nghiên cứu chưa thật sự đi vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, hay nói cách khác là các doanh nghiệp chưa “mặn mà” với các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong viện nghiên cứu, trường đại học. Ðiều này cũng đồng nghĩa với việc những kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước không được thương mại hóa, hiệu quả hoạt động KH và CN đạt ở mức thấp. Trong khi đó, ngân sách Nhà nước đầu tư cho KH và CN từ năm 2000 đến nay đều đạt mức 2% tổng chi ngân sách hằng năm. Kể từ năm 2000, mỗi năm Nhà nước bỏ ra từ 2,5 đến ba tỷ USD[3] để nhập khẩu thiết bị, công nghệ (chỉ đứng sau giá trị nhập nguyên phụ liệu). Gần 65% giá trị nhập khẩu thiết bị, công nghệ có nguồn gốc từ Nhật Bản, Ðài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc, đối tượng nhập khẩu chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ðiều đáng quan tâm là một phần không nhỏ những thiết bị, công nghệ nhập khẩu này hoàn toàn có thể chế tạo được ở trong nước.

Nguyên nhân của vấn đề này có nhiều, nhưng chủ yếu vẫn thuộc về các doanh nghiệp, nhà khoa học và nhà quản lý. Về phía các doanh nghiệp, do thiếu thông tin về khả năng chế tạo của các nhà khoa học trong nước, thiếu sự tin cậy đối với các sản phẩm còn mang tính “nghiên cứu”, chưa được thử nghiệm nên chưa mạnh dạn tìm mua những thiết bị, công nghệ được sản xuất trong nước, mà thường chọn phương án nhập khẩu thiết bị, công nghệ nước ngoài, tuy giá cao nhưng có vẻ bảo đảm, ít mạo hiểm và rủi ro hơn. Về phía nhà khoa học, do thiếu điều kiện để triển khai các ý tưởng khoa học, triển khai thực nghiệm, hoàn thiện công nghệ từ các đề tài nghiên cứu và thiếu kinh phí để triển khai, thiếu thông tin về nhu cầu của doanh nghiệp, nên hoạt động nghiên cứu chưa sát với nhu cầu của thực tế sản xuất, chưa tạo được lòng tin đối với các doanh nghiệp. Vì vậy, những kết quả nghiên cứu chưa được thương mại hóa. Về phía nhà quản lý, do trong khâu tuyển chọn đầu vào còn mang nặng tính hành chính cơ chế xin – cho, nên phần lớn đề tài, dự án chưa xuất phát từ những đòi hỏi của thực tế sản xuất hay từ những vấn đề của doanh nghiệp. Bởi vậy, những thiết bị, công nghệ được tạo ra từ các đề tài, dự án trên không được các doanh nghiệp sử dụng mua bán. Hơn nữa, chúng ta chưa có được một chính sách hay một chiến lược cụ thể hỗ trợ các nhà khoa học cũng như doanh nghiệp để các kết quả nghiên cứu đến với thực tế sản xuất, qua đó thương mại hóa chúng. Thực tế cho thấy, chúng ta mới chỉ quan tâm làm sao để các đề tài, dự án cho ra được kết quả, còn việc kết quả đó đến với thực tế sản xuất như thế nào thì còn thả nổi hoặc chỉ dừng lại ở những giải pháp mang tính tuyên truyền, khuyến khích một cách hình thức… Trong khi, từ kết quả nghiên cứu của các đề tài, dự án tới việc áp dụng thực tế còn một khoảng cách khá xa.

Hơn nữa thực trạng hiện nay cho thấy việc chậm thương mại hóa các tài sản trí tuệ phần lớn là do chính bản thân các tác giả nghiên cứu, sáng chế chưa chủ động khai thác thương mại sản phẩm của mình. Kết quả khảo sát tại các viện nghiên cứu, trường đại học cho thấy, sau khi hoàn thành đề tài, phần lớn các nhà nghiên cứu thường chuyển sang thực hiện các đề tài khác. Nghiên cứu đã được nghiệm thu thường không được chú ý khai thác các bước tiếp theo. Từ năm 2005 đến hết năm 2011 chỉ có 153 hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu sáng chế thành công và chỉ có 11 hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng sáng chế thành công (li-xăng). Đặc biệt năm 2006, 2007 không có hợp đồng nào. Như vậy, mỗi năm số hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng được thực hiện thành công cũng chỉ khoảng 20-30 hợp đồng[4]. So với yêu cầu 10% doanh nghiệp sản xuất (khoảng 13.000 doanh nghiệp) thực hiện đổi mới công nghệ mỗi năm, con số này còn quá khiêm tốn. Các kết quả nghiên cứu, sáng chế chưa được tích cực đăng ký bảo hộ cũng tạo ra khó khăn trong việc quảng bá rộng rãi các kết quả này tới doanh nghiệp sản xuất để khai thác ứng dụng, thống kê đến hết năm 2012, tổng số văn bằng bảo hộ sáng chế/giải pháp hữu ích được cấp cho chủ đơn Việt Nam là hơn 1.000, trong đó số sáng chế chiếm hơn 40%. Nếu bản thân các nhà sáng chế chưa chủ động khai thác thương mại sản phẩm của mình thì các trường đại học, viện nghiên cứu cũng chưa tích cực trong vấn đề này. Bằng sáng chế cấp cho viện, trường còn rất ít. Số liệu thống kê cũng cho thấy chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế chủ yếu là cá nhân (52%), doanh nghiệp (36%) và trường đại học, viện nghiên cứu chỉ có 11%. Doanh nghiệp là địa điểm chính để áp dụng khai thác tài sản trí tuệ nhưng một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trình độ khoa học công nghệ và năng lực đổi mới trong doanh nghiệp còn thấp. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học – công nghệ còn rất ít. Số lượng nhà khoa học, chuyên gia làm việc trong các doanh nghiệp chỉ chiếm 0,025% trong tổng số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp. Khoảng 80 – 90% máy móc và công nghệ sử dụng trong các doanh nghiệp của Việt Nam là nhập khẩu và 76% từ thập niên 1980 – 1990; 75% máy móc và trang thiết bị đã hết khấu hao. Tỉ lệ đầu tư đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam chỉ đạt dưới 0,05% doanh thu. Trong khi đó, tỉ lệ đầu tư cho R&D/GDP tại một số quốc gia khác cao hơn rất nhiều: 3,57% tại Hàn Quốc,  1,7%  tại Trung Quốc (năm 2009), Ấn Độ 0,76% (năm 2007).[5]

Thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều chính sách và nỗ lực đầu tư để thúc đẩy hoạt động đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp. Cùng với việc ban hành các Chương trình quốc gia với trọng tâm thúc đẩy nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp thông qua các hoạt động đổi mới quy trình và đổi mới sản phẩm công nghệ. Đồng thời đã nỗ lực hình thành thêm các kênh hỗ trợ tài chính theo hình thức Quỹ như Quỹ Phát triển KH&CN quốc gia, Quỹ Phát triển KH&CN của địa phương, Quỹ Phát triển KH&CN của doanh nghiệp, đặc biệt là Quỹ Đổi mới công nghệ quốc gia.

Chương trình Đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020 cũng đã được Chính phủ phê duyệt. Theo đó, mục tiêu đến năm 2015, số lượng doanh nghiệp thực hiện đổi mới công nghệ tăng trung bình 10%/năm, giai đoạn 2015–2020 tăng 15%, trong đó có 5% doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao; 100% doanh nghiệp sản xuất sản phẩm chủ lực, sản phẩm trọng điểm, sản phẩm quốc gia làm chủ và tạo ra được công nghệ tiên tiến để sản xuất sản phẩm; 30.000 kỹ sư, kỹ thuật viên và cán bộ quản lý doanh nghiệp nhỏ và vừa được đào tạo về quản lý công nghệ, quản trị công nghệ và cập nhật công nghệ mới và giai đoạn 2015 – 2020 đào tạo 80.000 lượt;…

Để đổi mới công nghệ, Chính phủ và các cơ quan nhà nước đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế đang phát triển. Cần đảm bảo tính bền vững lâu dài của các chương trình, đề án tài chính phục vụ các hoạt động đổi mới công nghệ. Các quỹ đổi mới theo từng lĩnh vực cụ thể cần được hình thành để giải quyết các thách thức mang tính quốc gia. Việc đánh giá các dự án đổi mới một cách chi tiết là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công.

Cùng với đó, sở hữu trí tuệ phải được coi là định hướng chính cho các cơ chế tài chính đổi mới công nghệ để bắt kịp với các nước công nghệ tiên tiến; cần tăng cường các cơ chế phân phối của các Quỹ Đổi mới công nghệ thông qua việc liên tục giám sát và đánh giá các kết quả đổi mới; cần thiết lập các nền tảng quốc gia tích hợp hỗ trợ cả về tài chính lẫn kỹ thuật.

  1. Đề xuất

Cần đổi mới phương thức quản lý, xây dựng hệ thống quản lý KH và CN dựa trên cơ sở hợp đồng. Việc đầu tiên phải tiến hành là tìm kiếm khách hàng, cùng khách hàng lựa chọn mặt hàng, sau đó bắt tay cùng khách hàng nghiên cứu khi đã nhận được tiền hợp đồng. Như vậy, một khi khách hàng đã tài trợ cho nghiên cứu thì bản thân họ đã tự nguyện ứng dụng thiết bị, công nghệ mới, dù rằng có thể có những rủi ro.

Nhà nước phải là “bà đỡ” cho các kết quả nghiên cứu bằng cách mua lại các kết quả nghiên cứu, từ đó đầu tư triển khai vào thực tế sản xuất và các doanh nghiệp. Làm được như vậy, sẽ dần tạo nên một thị trường mua bán, trao đổi công nghệ.

Tạo lập những cơ chế, chính sách thiết thực để thúc đẩy mối liên kết, hợp tác trong tam giác phát triển giữa ba nhà (nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp), để họ xích lại gần nhau hơn vì những mục tiêu, quyền lợi của mỗi bên và cho cả sự phát triển chung của nền KH và CN nước nhà.

Hình thành những tổ chức trung gian chuyên môi giới mua, bán và làm các dịch vụ chuyển giao KH và CN từ nhà nghiên cứu tới doanh nghiệp. Theo kinh nghiệm của các nước phát triển, những tổ chức trung gian này rất quan trọng để liên kết giữa cung và cầu về công nghệ, kết nối từ nhà khoa học tới doanh nghiệp và ngược lại. Ở nước ta hiện còn thiếu loại hình hoạt động này.

Mở rộng sự hợp tác, trao đổi quốc tế về KH và CN, nhất là trong bối cảnh xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay, khi mà nước ta sắp trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Qua đó, kết hợp hài hòa giữa tiếp nhận chuyển giao công nghệ quốc tế với tri thức của người Việt Nam để tạo ra những thiết bị, công nghệ mang thương hiệu Việt, cạnh tranh và từng bước thay thế các thiết bị, công nghệ nhập ngoại.


 

  1. Kết luận

Thực trạng thương mại hóa các kết quả nghiên cứu tại trường đại học và viện nghiên cứu của Việt Nam hiện nay còn phụ thuộc rất nhiều vào mối liên kết chặt chẽ giữa ba nhà (nhà quản lý, nhà khoa học và doanh nghiệp). Chính vì vậy để thúc đẩy phát triển việc thương mại hóa tại trường đại học và viện nghiên cứu thì cần phải hỗ trợ thúc đẩy phát triển đồng đều các yếu tố của thị trường khoa học và công nghệ, đồng thời phải hoàn thiện hành lang pháp lý cho các bên tham gia vào thị trường khoa học công nghệ. Bổ sung và tăng cường các hệ thống cơ sở dữ liệu liên quan đến thị trường khoa học công nghệ để các doanh nghiệp, nhà khoa học… có thể tiếp cận và tra cứu thông tin.

Bài Viết Liên Quan